Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia sẻ

5WH

Hình ảnh
Học Phật pháp thì cũng như học ở trên trường lớp phổ thông, ĐH. Để học cần có cái phương pháp học. Một trong những cách đó là dùng 5WH. Đầu tiên, chúng ta phải học các KHÁI NIỆM, nắm bắt các khái niệm trước. Như: - Tứ diệu đế là gì? - 12 nhân duyên là gì? - Các duyên trong 12 nhân duyên là gì? - 5 hạ phần kiết sử là gì? - 5 thượng phần kiết sử là gì? - Dục lậu - hữu lậu - vô minh lậu là gì? v.v.. Chúng ta dùng WHAT để trả lời cho những khái niệm đó. Rồi TU NHƯ THẾ NÀO, áp dụng Ở ĐÂU, KHI NÀO, v.v.. tương tự như vậy. Đó là giai đoạn 1: thông hiểu những gì cần thông hiểu. Khi hiểu rồi thì ÁP DỤNG VÀO CHÍNH ĐỜI SỐNG CỦA MÌNH để SỐNG một đời sống bình an, hạnh phúc với những NHÂN QUẢ LÀNH, tạo những công đức lành. Đời sống của cư sĩ 5 giới - 10 điều lành. Đời sống của người xuất gia 10 giới Sadi - 10 điều lành. Trên đời sống đó, TUẦN TỰ đoạn trừ các NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ: 5 hạ phần kiết sử, 5 thượng phần kiết sử. ĐOẠN TRỪ BẰNG CHÁNH KIẾN, bằng thiền quán, bằng như lý tác ý. Trước hết phải ...

LINH HỒN KHÔNG CÓ

Hình ảnh
Hầu như tất cả các tôn giáo đều xây dựng thế giới siêu hình, riêng đạo Phật, đức Phật thấy rõ sự thật các pháp đều là vô thường, do duyên hợp duyên tan tạo thành và không có một linh hồn, bản ngã thường còn nào trong đó. Hiểu biết (giác ngộ) ra được LINH HỒN KHÔNG CÓ thì chúng ta mới thực hành đúng Phật Pháp được và mới đoạn trừ thân kiến kiết sử được. NẾU chúng ta còn cho rằng sau khi chết có một thần thức hay linh hồn đi tái sanh thì như vậy là TÀ KIẾN và không thể tu tập giải thoát được. Chỉ có nghiệp tái sanh luân hồi thì mới có nhân quả công bằng. Nếu có linh hồn thì đạo Phật không ra đời, quả đúng như vậy! Sự thật các thế giới luân hồi ở ngay trên thân ngũ uẩn của chúng ta. Trong đạo Phật cũng dùng các khái niệm như: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, trời, người và niết bàn nhưng đó không phải là khái niệm siêu hình, mà là chỉ chỉ các trạng thái tâm của chúng ta. Giác ngộ ra 6 nẻo luân hồi, 3 thế giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) thì mới phá vỡ được thế giới TƯỞNG TRI mà...

CÂU CHUYỆN VỀ NGÀI PUKKUSATI BỊ BÒ HÚC CHẾT

Hình ảnh
Bài kinh MN.140 nói về ngài Pukkusati, ngài vì lòng tin đức Phật, xuất gia, thực hành theo hạnh của Phật dạy. Tình cờ gặp Phật mà không biết đó là Phật, sau khi Phật hỏi mới biết. Rồi Phật dạy cho ông một bài Pháp. Sau đó ngài xin thọ cụ túc giới, nhưng do thiếu y bát nên ngài phải đi tìm y bát. Trên đường đi, ngài bị con bò điên húc chết [1]. Tuy ngài bị chết, nhưng đức Phật xác định: "Thiện gia nam tử Pukkusati, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh và từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không phải trở lui đời ấy nữa." Ngài Pukkusati cũng giống như ngài Bāhiya [2], đều bị bò húc chết và đều niết bàn. Câu hỏi của chúng ta là các ngài đã tu pháp gì, hay Phật dạy cho các ngài như thế nào mà các ngài đã có TÂM GIẢI THOÁT như vậy? Chúng ta đọc TRỰC TIẾP vào kinh Phật dạy sẽ rõ. ___ [1] Kinh Giới phân biệt [2] BÀI KINH BÀHIYA

GIỚI ĐỊNH TUỆ

Hình ảnh
Có bạn đề nghị Tâm Phúc giải thích Giới - Định - Tuệ trong các hình TP thiết kế. Trước hết cần phải khẳng định rằng: - Chánh kiến, Chánh tư duy thuộc về TUỆ. - Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng thuộc về GIỚI. - Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định thuộc về ĐỊNH như hình TP đã thiết kế. Vì sao lại như vậy, vì Phật dạy như vậy. Các bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà Phật dạy: Chánh kiến là gì, Chánh tư duy là gì thì bạn sẽ hiểu vì sao 2 chi phần này lại là Tuệ. Tương tự như vậy cho Giới, Định. Tiểu kinh Phương Quảng - Trung bộ kinh (MN.44) Tỷ-kheo-ni Dhammadinna (là bậc đại trí tuệ bên ni, giống ngài Xá lợi Phất bên nam) trong Tăng chúng của đức Phật dạy: "-- Thưa Ni sư, ba uẩn được Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp hay Thánh đạo Tám ngành được ba uẩn thâu nhiếp? -- Hiền giả Visakha, ba uẩn không bị Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp; Hiền giả Visakha, Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp. Hiền giả Visakha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, những pháp này được thâu nhiếp tro...

NGƯỜI CƯ SĨ - QUY Y TAM BẢO

Hình ảnh
Người cư sĩ là người có quy y Tam Bảo. Quy là trở về; Y là nương tựa, quy y Tam Bảo là trở về nương tựa Tam Bảo. Vậy Tam Bảo là gì? Đó là Phật - Pháp - Tăng. - Phật là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một con người có thật, ngài cũng do cha mẹ sinh ra, ngài là con của vua Tịnh Phạn ở vùng Ấn Độ, cách nay hơn 2500 năm. Ngài sinh ra, lớn lên cũng lấy vợ sinh con như bao người bình thường. Và ngài cũng chịu bức bách của sinh - già - bệnh - chết như bất cứ con người nào trên thế gian này. Khi đi dạo bốn cổng thành, ngài đã khởi lên ý niệm tìm con đường giải thoát khỏi sanh - già - bệnh - chết và ngài xuất gia tu hành, chứng đạt Tam Minh. Với trí tuệ Tam Minh, ngài nhìn thấy được tất cả chúng sanh trôi lăn trong sinh tử luân hồi là do Vô Minh, do không thông đạt Tứ Diệu Đế: "Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt Bốn Thánh Đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về...

KHÔNG PHẢI ĐI KHẤT THỰC LÀ GIẢI THOÁT

Hình ảnh
Phật dạy VÔ MINH là do không giác ngộ các Sự thật các pháp: Khổ, Nguyên Nhân Của Khổ, Trạng thái tâm hết khổ, Phương cách để tâm hết khổ; Vô minh là không giác ngộ thế giới 12 nhân duyên; vô minh là không giác ngộ ra các pháp vô thường, khổ, vô ngã, v.v... và VÔ MINH LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ. chứ không phải không đi khất thực, hoặc không sống trong thất là khổ. Trong đạo Phật có 4 chúng đồng tu, đó là cư sĩ nam/ nữ; tu sĩ nam/nữ. Cả bốn chúng này đều thực hành Bát chánh đạo thì đều là Sa môn hết, chứ không phải chúng ta mang bình bát mới là Sa môn. Sa môn là cái danh từ chỉ cho một vị nào đó thực hành cái HẠNH GIẢI THOÁT, tức là thực hành Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Thiền Quán, Tứ Chánh Cần, v.v.. Sa môn thì có quả Sa môn, quả của Sa môn là Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A la hán. Quả dự lưu thì đoạn trừ 3 kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Muốn đoạn trừ 3 cái này phải thân cận THIỆN TRI THỨC để nghe VI DIỆU PHÁP, là Tứ diệu đế, 12 Nhân duyên từ đó đoạn trừ thân kiến, nghi, giới cấm thủ...

TÂM QUAY RA NGOÀI <> TÂM HƯỚNG VÀO TRONG

Hình ảnh
Khi đọc được một đoạn kinh, bài giảng đạo đức của Thầy nếu chúng ta quay ra ngoài so đo với bên ngoài, với người này, người kia, v.v.. thì đó là tâm buông lung, tâm phóng dật. Pháp bên ngoài thuộc về 6 trần, 6 trần là vô thường, biến hoại, sanh diệt, nó là pháp nhân quả, nhân quả quy định nó phải vậy, đừng có thắc mắc tại sao. Tại sao người này lại theo vị thầy A để học, người này theo thầy B để học, người này giữ giới, người kia phạm giới, v.v.. tất cả đều là pháp nhân quả, nghiệp báu sai biệt của chúng sanh. Đó không phải là việc của mình. Chúng ta không có thẩm quyền gì đối với các pháp đó cả. Việc của chúng ta là ĐỌC RA CÁI TÂM CỦA MÌNH, tâm mình KHỞI LÊN cái niệm gì? Đó mới là chánh niệm tỉnh giác, đọc và giác tỉnh ra, phân loại ra: à đây, mày là tâm sân, mày là tâm bất toại nguyện, mày là tâm đố kỵ, mày là tâm tham, mày là tâm hoan hỷ, v.v.. Khi đọc được rồi thì dùng NHƯ LÝ TÁC Ý để câu hữu với các trợ đạo mà xử nó. Vậy thôi, công việc của một người: trên tâm quán tâm để khắc ph...

THIỂU DỤC TRI TÚC LÀ GÌ?

Hình ảnh
  Đức Phật dạy chúng ta có các pháp hằng ngày tu tập: - Thánh giới uẩn - Thánh phòng hộ các căn - Thành thiểu dục tri túc - Thánh chánh niệm tỉnh giác Đây là 4 pháp giúp chúng ta sống bình an, hạnh phúc. Với người tu sĩ, đời sống thiểu dục tri túc là 3 y 1 bát, còn người cư sĩ thì sao? Người cư sĩ đời sống không như tu sĩ, chúng ta phải có đầy đủ các vật thực, của cải, tiền bạc, phương tiện, v.v.. để làm cho cuộc sống tốt lên, hạnh phúc hơn, chứ không phải BUÔNG hết. Thiểu dục tri túc là ít muốn, biết đủ. NHƯNG, ít muốn biết đủ SO VỚI GÌ? Đó là so với PHƯỚC của CHÍNH MÌNH. Phước mình chỉ có cái nhà lá thì sống trong nhà lá, biết đủ vẫn vui. Phước mình chỉ có cái xe máy Honda Cub thì chạy cái xe đó, biết bằng lòng vẫn vui. Phước mình có cái xe Camry thì chạy xe Camry, biết đủ vẫn vui. Phước mình có cái xe Mercedes thì chạy xe Mercedes, biết đủ vẫn vui, v.v.. Nếu mình muốn nhiều hơn cái mình đang có là thấy có KHỔ xuất hiện, phải lao tâm khổ tứ tìm kiếm, v.v.. Thiểu dục tri túc là tâ...

NGƯỜI CƯ SĨ CẦN PHẢI CHĂM LO HỌC HÀNH, LÀM VIỆC

Hình ảnh
Chúng ta là những người cư sĩ cần phải chăm lo công việc, kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình. Đó là thiện pháp của chúng ta. Không như tu sĩ, chỉ khất thực xin ăn ngày một bữa. Người cư sĩ phải có sự thành công ở đời mới có hạnh phúc, có bình an được. Chớ nghèo đói sao có cuộc sống bình an, thanh thản được. Người cư sĩ biết đạo Phật là phải có cả 2: thành công ở đời và thành công ở đạo, như vậy mới có giải thoát. Thành công ở đời thì mọi người biết rồi, đó là phước về tài vật, học hành, danh tiếng, v.v.. Thành công ở đạo đó là đoạn trừ các kiết sử. Chúng ta cư sĩ sống tại gia hướng đến đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử: - Thân kiến - Nghi hoặc - Giới cấm thủ - Tham ái - Sân Pháp hành cũng y chang tu sĩ, không khác gì (Tứ Chánh Cần - hộ trì chân lý). Chỉ là khác về đời sống, nên những ai độc thân rất thuận lợi. Còn có gia đình (vợ/chồng) thì khó khăn hơn. Nhưng từ từ cũng chuyển hóa được để hướng đến quả giải thoát. Người tu sĩ muốn tu được cũng phải đi qua giai đoạn đoạn trừ 5 hạ phần ...

NGƯỜI XUẤT GIA LÀ AI?

Khái niệm "xuất gia", "tỳ kheo", "Sa môn" là một danh từ chung, chỉ cho những người thực hành ly các tham sân si mạn nghi, nghi các bất thiện pháp, thực hành những thiện pháp. Chúng đệ tử của Phật gồm: - Tỳ kheo tăng - Tỳ kheo ni - Cư sĩ nam - Cư sĩ nữ Người tu sĩ sống 10 giới Sadi, 10 điều lành. Người tu sĩ sống 5, 8 giới của cư sĩ, 10 điều lành. Bất cứ ai thực hành hạnh ly dục, ly ác pháp đều được gọi là vị xuất gia, vị Sa môn, Tỳ kheo,.. Không phân biệt màu da, y áo, v.v.. mà chỉ có phân biệt ở thân, khẩu, ý của từng người. Nhân quả không nhìn vào y áo, màu da, xuất thân, quê quán, con ông bà này bà kia, hay vị trụ trì, hay cư sĩ, hay tu sĩ, v.v.. mà luật nhân quả chỉ căn cứ vào hành động của từng người. Xuất gia là: - Xuất phiền não gia. - Xuất gia tam giới: tức là ly Dục Ái, Sắc Ái, Vô Sắc Ái. Những phiền não gia là những phiền não của Sanh y, tức là đời sống sinh hoạt tại gia đình, công ăn việc làm, v.v.. Nhưng nếu chúng ta có Chánh kiến chúng ...

THẾ GIỚI NHÂN QUẢ

Hình ảnh
Các thế giới đều ở ngay hiện tại cuộc sống của chính mỗi người. Tùy theo phước báu quá khứ + nỗ lực hiện tại mà mỗi người có được hạnh phúc (lạc) hay đau khổ (khổ) khác nhau. Vượt qua nhân quả là vượt qua khổ và lạc. Nhưng trước hết phải vượt qua khổ: đoạn trừ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la để cộng trú người, trời, từ đây xả ly người, trời để cộng trú Niết bàn. Người cư sĩ đến với Phật Pháp ban đầu sống 5 giới, nghe Vi Diệu Pháp (Pháp Thiết Thực Hiện Tại Tứ Diệu Đế, 12 Nhân Duyên), tu tập 10 điều lành, thực hiện PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ (như lý tác ý). Từ từ các thế giới khổ trong tâm thức được đoạn trừ. Tất cả đều là pháp nhân quả. Nhân a tu la, quả a tu la; Nhân địa ngục, quả địa ngục; Nhân súc sanh, quả súc sanh; Nhân ngọa quỷ, quả ngạ quỷ; Nhân người, quả người; Nhân trời, quả trời; Nhân vô lậu, quả Niết bàn (chấm dứt tái sanh). "Giác ngộ pháp thiết thực, Hiện tại không thời gian, Hộ trì sự thật này, Niết bàn chân hạnh phúc" (Trích bài kệ của Sư Tánh Trí) Sài-gòn, 4.3.20...

CHỜ KIẾP SAU ĐỦ DUYÊN GẶP CHÁNH PHÁP ĐỂ TU

Hình ảnh
Do còn có tâm hoang vu (nghi ngờ) và chưa giác ngộ Tứ diệu đế, 12 nhân duyên nên còn dự tính: kiếp sau được sanh làm người, được xuất gia ba y một bát rồi tu tiếp. Đạo Phật không phải như vậy, ngay khi một người giác ngộ Pháp Thiết Thực Hiện Tại họ tu ngay hiện tại, và xả được các kiết sử ngay hiện tại là giải thoát, chấm dứt tái sanh ngay hiện tại. Không chờ đợi một kiếp nào nữa. Một người khi họ đoạn trừ được 3 kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ là có Niết bàn ngay hiện tại. Nhưng người này phải hộ trì chân lý với đời sống trên Bát Chánh Đạo với: Thánh giới uẩn Thánh hộ trì các căn Thánh chánh niệm tỉnh giác Thành thiểu dục tri túc và Pháp Hành Tứ Chánh Cần: Trên thân quán thân để nhiếp phục tham ưu Trên thọ quán thọ để nhiếp phục tham ưu Trên pháp quán pháp để nhiếp phục tham ưu Trên pháp quán pháp để nhiếp phục tham ưu Đời sống và Giới hành như vậy giúp họ có được sự giải thoát ngay hiện tại, làm muội lược tham sân si. Hộ trì chân lý như vậy, tu tập như vậy cho đến khi nào xả l...

VƯỢT QUA NHÂN QUẢ

Hình ảnh
Khổ cảnh: đó là khổ đế, sinh - già - bệnh - ái biệt ly - cầu bất đắc - oán tắng hội - ngũ ấm xí hạnh khổ (đang xảy ra nơi CHÍNH MÌNH). Vai mang nặng chiếc cày: chánh tinh tấn - tinh tấn, kham nhẫn, nhẫn nại đoạn trừ phiền não NƠI CHÍNH MÌNH; ngăn ác diệt ác sinh thiện tăng trưởng thiện NƠI CHÍNH MÌNH. Tinh tấn trên bốn nơi với Pháp: - Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu. - Trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu. - Trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu. - Trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu. Sa môn: chỉ cho người thực hành theo Bát Chánh đạo, người thực hiện đời sống lành theo Phật Thích Ca Mâu Ni dạy. Quả Sa môn: là kết quả của việc tu tập. Kết quả của việc tu tập là giải thoát khỏi các trói buộc (các kiết sử). Có một TUẦN TỰ đoạn trừ: - Đoạn trừ 3 hạ phần kiết sử. - Đoạn trừ 3 hạ phần kiết sử làm muội lược tham sân. - Đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử. - Đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử và 5 thượng phần kiết sử. Bắt đầu vào đạo Phật là ăn thức ăn đầu tiền: thân cận thiện tri thức để ...